Tổng hợp thị trường 11-12-2024
NÔNG SẢN | Ngô 3/25 | ZCEH25 | 448,25 | -0,75 | -0,17% |
Đậu tương 1/25 | ZSEF25 | 995,50 | 0,75 | +0,08% | |
Khô đậu tương 1/25 | ZMEF25 | 291,1 | -0,90 | -0,31% | |
Dầu đậu tương 1/25 | ZLEF25 | 42,44 | -0,28 | -0,66% | |
Lúa mì Chicago 3/25 | ZWAH25 | 563,25 | 1,50 | +0,27% | |
NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP | Cà phê Arabica 3/25 | KCEH25 | 320,20 | -13,95 | -4,17% |
Cà phê Robusta 3/25 | LRCH25 | 5101 | -131,00 | -2,50% | |
Dầu cọ thô 1/25 | MPOF25 | 4954 | -117,00 | -2,31% | |
Ca cao 3/25 | CCEH25 | 10577 | 20,00 | +0,19% | |
Bông 3/25 | CTEH25 | 70,15 | 0,67 | +0,96% | |
Đường 11 3/25 | SBEH25 | 21,28 | 0,24 | +1,14% | |
Cao su RSS3 2/25 | TRUG25 | 375,7 | 5,70 | +1,54% | |
Cao su TSR20 2/25 | ZFTG25 | 205,8 | 3,80 | +1,88% | |
NĂNG LƯỢNG | Dầu WTI 1/25 | CLEF25 | 70,29 | 1,70 | +2,48% |
Dầu Brent 2/25 | QOG25 | 73,64 | 1,58 | +2,19% | |
Dầu ít lưu huỳnh 1/25 | QPF25 | 676,00 | 14,75 | +2,23% | |
Khí tự nhiên 1/25 | NGEF25 | 3,378 | 0,22 | +6,80% | |
Xăng RBOB 1/25 | RBEF25 | 19,858 | 0,03 | +1,48% | |
KIM LOẠI | Bạc 3/25 | SIEH25 | 32,967 | 0,22 | +0,67% |
Bạch kim 1/25 | PLEF25 | 950,8 | 1,70 | +0,18% | |
Đồng 3/25 | CPEH25 | 42,635 | -0,01 | -0,20% | |
Quặng sắt 1/25 | FEFF25 | 104,58 | -0,80 | -0,76% |
NÔNG SẢN
Giá đậu tương không có nhiều sự thay đổi, chủ yếu giằng co quanh mức tham chiếu. Tại khu vực Nam Mỹ, tình hình thời tiết nhìn chung vẫn tương đối khả quan, mặc dù vẫn có xuất hiện một số dự báo không chắc chắn về tình trạng khô hạn sắp tới. Thị trường vẫn đang kỳ vọng về một vụ mùa kỷ lục trong năm nay tại Brazil và Argentina do khởi đầu mùa vụ thuận lợi tính đến thời điểm hiện tại.
Giá ngô giảm nhẹ vào hôm qua, kết thúc chuỗi 4 phiên liếp tiếp đóng cửa trong sắc xanh trước đó. Thị trường biến động tương đối nhẹ nhàng sau báo cáo WASDE tháng 12, nhưng phe bán vẫn có phần chiếm ưu thế do áp lực chốt lời cùng triển vọng vụ mùa tích cực từ khu vực Nam Mỹ, đặc biệt là tại Brazil và Argentina.
Giá lúa mì ghi nhận mức tăng nhẹ trong phiên vừa rồi. Thị trường vẫn được hỗ trợ bởi những lo ngại về hoạt động xuất khẩu của Nga, quốc gia xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới.
NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP
Giá cà phê Arabica giảm 4,2%, từ mức cao nhất trong 47 năm và giá cà phê Robusta đánh mất 2,5% sau 5 phiên tăng liên tiếp trước đó. Tâm lý chốt lời khi giá tại vùng thanh khoản cũ, kết hợp cùng một vài tín hiệu khởi sắc từ mùa vụ cà phê của các nước sản xuất lớn đã gây sức ép lên giá. Nhà kinh doanh cà phê Neuman Gruppe, cho biết sản lượng cà phê Arabica niên vụ 2025/26 của Brazil có thể đạt 40 triệu bao, cao hơn nhiều so với dự báo được đưa ra vào một ngày trước của Volcafe, là 34,4 triệu bao. Đồng thời, họ cũng lưu ý rằng, vẫn còn "quá sớm" để đánh giá chính xác niên vụ cà phê 2025/26 của Brazil. Điều này khiến thị trường bớt đi những lo ngại về khả năng thiếu hụt nguồn cung trầm trọng. Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) với chi nhánh tại Hà Nội đã nânng dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2024/25 của Việt Nam lên 30,1 triệu bao loại 60kg, cao hơn lần lượt 1,1 và 2,6 triệu bao so với dự đoán của USDA trụ sở tại Mỹ và niên vụ trước. Sản lượng tăng kéo theo sự khởi sắc trong xuất khẩu, dự kiến đạt 26,92 triệu bao, tăng 380.000 bao so với dự báo ban đầu của USDA và cao hơn 2,52 triệu bao so với vụ 2023/24.
NĂNG LƯỢNG
Giá dầu nối dài đà tăng sang phiên thứ 3 liên tiếp quay trở lại mốc 70 USD/thùng khi kết thúc phiên hôm qua. Tình hình xung đột tại Ukraine leo thang đã tác động “bullish” mạnh lên giá. Bộ Quốc phòng Nga cho biết, Ukraine đã tấn công sân bay quân sự Nga bằng 6 tên lửa đạn đạo do Mỹ sản xuất, đồng thời tuyên bố sẽ đáp trả hành động này. Bên cạnh đó, việc chính quyền của tổng thống Joe Biden đang xem xét các biện pháp trừng phạt mới và khắc nghiệt hơn đối với hoạt động buôn bán dầu mỏ của Nga cũng khiến các nhà đầu tư lo ngại về khả năng nguồn cung toàn cầu bị thu hẹp trong ngắn hạn. Ngoài ra, EIA cho biết tồn kho dầu thô thương mại của Mỹ trong tuần kết thúc ngày 6/12 giảm 1,43 triệu thùng so với một tuần trước, vượt qua mức dự đoán giảm 0,9 triệu thùng của giới phân tích và trái với mức tăng 0,5 triệu thùng do API báo cáo
KIM LOẠI
Giá bạc, bạch kim tăng lần lượt 0,67% và 0,18% sau khi Mỹ công bố số liệu lạm phát phù hợp với kỳ vọng, làm tăng khả năng FED cắt giảm lãi suất vào tuần tới. Cụ thể, trong tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nước này tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Cả hai con số này đều phù hợp với dự báo của thị trường. Theo đó, xác suất FED cắt giảm 25 điểm cơ bản đã tăng lên 95%, tăng từ khoảng 85% trước khi báo cáo lạm phát được công bố, theo công cụ theo dõi lãi suất FedWatch của CME Group. Đây dự kiến sẽ là lần hạ lãi suất thứ ba của FED trong năm nay.
Giá đồng COMEX giảm 0,2% xuống 4,26 USD/pound bởi lo ngại nguồn cung dư thừa trên thị trường. Dữ liệu từ Ủy ban đồng Chile Cochilco công bố hôm qua cho thấy, trong tháng 10, tổng sản lượng đồng của Chile, quốc gia sản xuất đồng lớn nhất thế giới, đạt 488.900 tấn, tương đương tăng 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức sản lượng cao nhất kể từ đầu năm đến nay. Tạo thêm áp lực lên giá, các nhà nghiên cứu tại Capital Economics đã giá đồng dự kiến sẽ đánh mất mốc 9.000 USD/tấn (4,08 USD/pound) vào năm sau. Sang năm 2026, giá sẽ giảm về mức 8.000 USD/tấn (3,63 USD/pound) và tiếp tục giảm cho đến năm 2030.